Google News

Đào tạo truyền thông thời AI: Một ý tưởng có thể "sống khỏe" trên đa nền tảng

HHTO - Bước vào kỷ nguyên số, tốc độ thay đổi của công nghệ đang chạy đua khốc liệt với giáo trình giảng đường. Khi thuật toán thao túng hành vi người xem và AI có thể làm việc xuyên đêm không mệt mỏi, đâu là chiếc “neo” để những người làm nội dung trẻ vững tay chèo? Góc nhìn thực tế từ NCS. ThS. Lê Mai Hương Trà - Giảng viên trường ĐH Công nghệ TP.HCM (HUTECH) đồng thời là biên tập viên truyền hình - sẽ phác thảo chân dung của thế hệ làm báo mới.

Cuộc rượt đuổi nghẹt thở giữa giáo trình và thuật toán

Từ thực tế giảng dạy và làm nghề, tôi thường nói vui với sinh viên rằng các tòa soạn hiện nay đang tuyển một nhân sự trọn gói, phải kiêm nhiệm từ làm nội dung, quay, dựng, thiết kế đến tối ưu SEO để nhận một đầu lương.

So với trước đây, khi một ê-kíp truyền hình cần tối thiểu 3 người, sự lên ngôi của mạng xã hội đã thu gọn bộ máy và thay đổi hoàn toàn cách kể chuyện. Một phóng sự ngày nay không chỉ phát sóng chính trên TV mà phải kéo theo cả chục sản phẩm phái sinh trên mạng xã hội như clip ngắn, infographic, bài tóm tắt..., đòi hỏi người làm nghề phải thích ứng với tư duy đa sản phẩm ngay tại hiện trường.

sinh-vien-trong-gio-hoc.jpg
Sinh viên thực hành trong giờ học Báo chí Truyền thông.

Thách thức lớn nhất của ngành đào tạo Báo chí Truyền thông hôm nay không phải là thiếu công cụ hay thiếu giáo trình. Khủng hoảng thực sự nằm ở chỗ: Tốc độ thay đổi của ngành luôn đi trước chu kỳ cập nhật chương trình đào tạo. Khi một học phần được phê duyệt xong thủ tục, nội dung đó đôi khi đã lỗi thời.

Điều khiến tôi chú ý hơn trong mấy năm gần đây là sự dịch chuyển qua từng lứa sinh viên. Những sinh viên tôi dạy từ năm 2014 đến năm 2018 vẫn còn xem truyền hình cùng gia đình và hiểu giờ vàng là gì. Lứa bây giờ thì khác, các em lớn lên với màn hình dọc và nội dung 60 giây, tiếp nhận thông tin theo gợi ý của thuật toán chứ không theo lịch phát sóng của nhà đài.

sinh-vien-trong-gio-thuc-tap.jpg
Sinh viên trong giờ thực tập.

Tôi vừa có dịp trao đổi tại một hội thảo quốc tế về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục đại học ngành truyền thông, có một số liệu đáng suy nghĩ: 91,8% người dưới 30 tuổi ưu tiên mạng xã hội để xem nội dung và thói quen giờ vàng đang dần lỗi thời với Gen Z, Gen Alpha. Đây là thực tế người dạy báo chí cần nhìn thẳng, bởi vì chúng ta đang đào tạo người làm nội dung cho lứa khán giả đó chứ không phải cho khán giả của 10 năm trước.

Bốn chiếc neo giúp người làm nội dung không bị AI “nuốt”

Trí tuệ nhân tạo làm được rất nhiều thứ và tôi không thấy cần phải né tránh khi nói điều đó với sinh viên. Nó viết nhanh, dựng nhanh, tóm tắt, dịch thuật, phân tích dữ liệu, làm lúc 3 giờ sáng mà không than mệt. Nhưng làm được nhiều thứ không có nghĩa là làm được tất cả.

le-mai-huong-tra-5.jpg
Nghiên cứu sinh, Thạc sĩ Lê Mai Hương Trà.

Thứ tôi thấy trí tuệ nhân tạo chưa chạm tới được và cũng là thứ tôi vẫn dạy kỹ nhất là kỹ năng đặt câu hỏi đúng và tư duy phản biện. Công cụ trả lời rất giỏi nhưng câu hỏi và định hướng phải do con người đặt ra. Một người làm nội dung giỏi là người biết khán giả của mình đang thực sự cần gì, đang băn khoăn điều gì, muốn được chạm vào cảm xúc nào. Kỹ năng đó được rèn qua nhiều năm quan sát, qua hàng trăm sản phẩm thành công lẫn thất bại, không có phần mềm nào dạy thay được.

Thứ hai là tư duy sản phẩm đa nền tảng và khả năng thiết kế trải nghiệm. Trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một clip đẹp, một bài viết mượt nhưng để quyết định clip đó dài bao nhiêu giây cho TikTok, đoạn nào cắt ra làm Shorts, phần nào phù hợp dẫn vào Livestream, toàn bộ hệ sinh thái sản phẩm đó được thiết kế như thế nào để khán giả đi từ nền tảng này sang nền tảng khác mà vẫn gắn kết thì cần một người hiểu cả nghề lẫn hành vi người xem.

le-mai-huong-tra-7.jpg
Nghiên cứu sinh, Thạc sĩ Lê Mai Hương Trà.

Thứ ba là năng lực dẫn dắt cộng đồng đồng kiến tạo. Đây là điểm tôi hay nói với sinh viên: Gen Z đang có một lợi thế mà thế hệ làm nghề trước không có, các bạn chính là khán giả mà mình đang muốn tiếp cận. Các bạn hiểu tại sao một xu hướng bùng lên rồi tắt nhanh, hiểu cộng đồng thị hiếu nào đang nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ gì, hiểu cảm giác muốn được nhìn thấy bản thân trong một sản phẩm truyền thông là như thế nào. Đó là vốn hiểu biết văn hoá cộng đồng mà không trường lớp nào dạy được và không thuật toán nào tái tạo được.

Và có một thứ mà sau nhiều năm làm truyền hình tôi vẫn thấy không gì thay thế được, đó là sự hiện diện của con người trong câu chuyện. Khoảnh khắc một nhân vật khóc trước ống kính và người làm chương trình biết im lặng đúng lúc, không cắt cảnh, không hỏi tiếp, chính khoảnh khắc đó làm nên một phóng sự hay một show truyền hình lay động người xem. Trí tuệ nhân tạo có thể nhận diện cảm xúc, nhưng cái chọn lựa im lặng đó là sản phẩm của một người hiểu nghề, hiểu người, hiểu câu chuyện mình đang kể.

Đưa “xưởng thực hành AI” vào giảng đường

Để sinh viên cọ xát với thực tế, các giảng viên đã giữ phần lõi ổn định gồm tư duy Báo chí Truyền thông, đạo đức nghề, và kỹ năng kể chuyện. Còn phần công cụ và sáng tạo thì cập nhật liên tục theo thực tế nghề cũng như xu hướng thị trường.

Hiện tại, tôi đang đưa vào bài giảng các thao tác cụ thể như dùng Claude/ChatGPT để nghiên cứu, tổng hợp tài liệu và phát triển ý tưởng kịch bản; dùng các công cụ tạo hình ảnh bằng trí tuệ nhân tạo như Gemini/Midjourney/Leonardo để hình dung sản phẩm trước khi quay; dùng CapCut AI để dựng nhanh sản phẩm mạng xã hội ngay trên điện thoại hoặc tạo những clip ngắn/hình hiệu với Kling AI/HeyGen/Hailuo. Tôi chọn những thứ sinh viên cầm lên là làm được ngay, không cần máy móc đắt tiền, không cần phòng dựng chuyên nghiệp.

le-mai-huong-tra-6.jpg
Nghiên cứu sinh, Thạc sĩ Lê Mai Hương Trà.

Sinh viên được giao những bài tập thực tế: Từ một video clip có sẵn (phóng sự/ gameshow/ livestream…), tự hỏi nếu là đội truyền thông của chương trình này, mình sẽ khai thác thêm được bao nhiêu sản phẩm từ một buổi ghi hình. Từ đó sinh viên bắt đầu nhìn thấy cấu trúc của một hệ sinh thái nội dung, không phải từ lý thuyết mà từ chính sản phẩm các bạn đang xem hằng ngày.

Bước tiếp theo là tự thiết kế một hệ sinh thái cho ý tưởng của mình, vẽ ra từng nền tảng, từng định dạng, từng điểm chạm với khán giả, rồi thử nghiệm thực tế bằng chính tài khoản mạng xã hội của sinh viên. Làm quen với tư duy đó từ sớm, khi ra trường các bạn sẽ không bị bỡ ngỡ khi tòa soạn hay đơn vị sản xuất yêu cầu một ý tưởng phải sống được trên nhiều nền tảng cùng lúc.

hht1483-coverfb.jpg